Tình hình kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ tháng 10 năm 2019

13/04/2020

Báo cáo từ Cục Thống kê thành phố Cần Thơ, tình hình kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ tháng 10 năm 2019 như sau:

 

I. CÔNG NGHIỆP

                   Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp ước tháng 10 tăng 2,03% so với tháng trước và tăng 9,46% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,30%; ngành phân phối điện tăng 24,48%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý xử lý rác thải tăng 5,61% so với cùng kỳ.

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp ước thực hiện 10 tháng tăng 7,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 7,68%; ngành phân phối điện tăng 8,27%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý xử lý rác thải tăng 4,87%. Trong đó, có một số sản phẩm đạt mức tăng trưởng khá như: Cá phi lê đông lạnh tăng 22,86%; tôm đông lạnh tăng 16,66%; bia lon tăng 12,49%; bao bì và túi đựng tăng 26,34%; quần áo tăng 3,36%; sản phẩm in khác tăng 21,51%; dược phẩm tăng 21,48%; bao và túi bằng plastic khác tăng 14,42%; xi măng tăng 13,18%; sắt thép tăng 10,53%; đinh vít tăng 10,11%, bánh răng tăng 24,20%; tủ gỗ tăng 39,20%. Nguyên nhân tăng do các doanh nghiệp đã áp dụng nhiều biện pháp kinh doanh nhằm kích thích sự phát triển trong khâu sản xuất, tìm kiếm nhiều giải pháp để rút ngắn thời gian và chi chí sản xuất tạo môi trường sản xuất ổn định, thị trường hàng hoá và nguồn nguyên liệu bình ổn nên sản phẩm làm ra từng bước tạo được niềm tin nơi khách hàng. Mặt khác, với sự nỗ lực và quyết tâm cao của các cơ quan quản lý nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển kinh tế, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và đồng hành cùng doanh nghiệp vượt qua khó khăn. Hơn nữa, các doanh nghiệp đã không ngừng phấn đấu để bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ trong quản lý sản xuất, chế biến nhằm đảm bảo duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định. Hiện nay nhiều doanh nghiệp đã luôn coi trọng việc thay đổi kỹ thuật, cải tiến công nghệ, đặc biệt là ứng dụng thành tựu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 để hiện đại hóa việc kinh doanh khép kín từ khâu tạo nguồn nguyên liệu đến khâu cuối cùng là thành phẩm. Bên cạnh những thuận lợi đạt được song vẫn có những hạn chế khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh như: do thời tiết thất thường, dịch bệnh kéo dài, thị trường tiêu thụ không ổn định, rào cản kỹ thuật, giá thành sản xuất cao, những quy định nghiêm ngặt từ thị trường xuất khẩu, mức độ ứng dụng công nghệ còn rất hạn chế, đặc biệt với những doanh nghiệp có quy mô sản xuất nhỏ. Mặt khác, việc bắt buộc các doanh nghiệp xuất khẩu (đặc biệt là mặt hàng thủy sản) phải công bố đầy đủ các thông tin về xuất xứ nguồn gốc nguyên liệu điều này đã gây không ít những khó khăn hạn chế trong khâu sản xuất và xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tháng 10 tăng 0,99% so tháng trước và tăng 1,03% so cùng kỳ. Tính chung 10 tháng chỉ số tiêu thụ tăng 1,80% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng như: Sản xuất đồ uống tăng 7,52%; hàng dệt tăng 23,75%; sản xuất trang phục tăng 5,83%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 6,41%; dịch vụ in ấn tăng 21,51%; sản xuất thuốc hóa dược và dược liệu tăng 21,48%; sản xuất kim loại tăng 10,56%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 10,16%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 5,55%.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 1/10/2019 là 77,03% so với cùng kỳ.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 10/2019 tăng 0,31% so với tháng trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,17%, doanh nghiệp Ngoài Nhà nước tăng 0,33% và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 0,20%. Số lao động tại các doanh nghiệp không có biến động nhiều, vẫn giữ mức ổn định và lao động bình thường.

    II. NÔNG LÂM NGHIỆP - THUỶ SẢN  

          1. Nông nghiệp  

             1.1. Trồng trọt

              - Cây lúa: Diện tích lúa vụ Thu đông toàn thành phố ước đạt 64.248 ha, đạt 107,58% so với kế hoạch (KH: 59.720 ha); thấp hơn 9.823 ha so với cùng kỳ. Nguyên nhân: Do giá lúa đầu vụ thấp, nên người dân đã chủ động xả lũ nhằm tạo phù sa cho đất; Tập trung chủ yếu ở huyện Vĩnh Thạnh. Các giống lúa chất lượng cao được nông dân ưa chuộng tiếp tục gieo sạ như: OM 5451: 71% so với diện tích gieo trồng, OM 4218: 2%, IR 50404: 19%, Jasmine 85: 1%,... và các giống khác 6%.

Lúa Thu đông cố gắng thu hoạch để không bị ảnh hưởng của lũ, diện tích đã thu hoạch khoảng 59.440 ha, thấp hơn so cùng kỳ 2.828 ha, đạt khoảng 92% so với diện tích gieo trồng. Diện tích lúa còn lại chủ yếu ở giai đoạn chắc xanh đến chín, sinh trưởng và phát triển khá tốt; Ngành nông nghiệp khuyến cáo nông dân thăm đồng thường xuyên, kiểm tra kỹ vết bệnh trên lá lúa, khi bệnh mới xuất hiện, hướng dẫn nông dân bơm rút nước, sử dụng thuốc đặc trị vi khuẩn để giảm khả năng lây lan của bệnh, để bảo vệ diện tích lúa Thu đông chưa thu hoạch. Năng suất gieo trồng ước đạt 50,67 tạ/ha, so với cùng kỳ tăng 1,51%, bằng 0,75 tạ/ha. Sản lượng ước 325.564 tấn, so Thu đông 2018 giảm 44.189 tấn.

         Nguyên nhân năng suất tăng và sản lượng giảm:
         Do thời tiết từ đầu vụ đến lúc thu hoạch thuận lợi cho sinh trưởng, phát triển cây lúa. Diện tích xuống giống của các quận, huyện đầu nguồn đều nằm trong đê bao an toàn, nên bà con luôn chủ động được lượng nước cần thiết cho từng giai đoạn sinh trưởng của cây lúa. Bà con nông dân thực hiện việc chọn giống tốt, bón phân cân đối và áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, giúp cây lúa chắc khỏe, ít bị đổ ngã và tiêu thoát nước phù hợp nên có nhiều thuận lợi trong thu hoạch.

 

            Sản lượng lúa giảm do diện tích gieo trồng vụ Thu đông giảm 9.823 ha.

        Trong tháng giá lúa tươi Thu đông 2019 ổn định so với tháng trước, giá lúa cụ thể như sau: lúa IR 50404: 3.900-4.400 đồng/kg, các lúa giống OM: 4.700-5.000 đồng/kg. Nhìn chung giá lúa Thu đông năm nay giảm khoảng 200 – 400 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước; Nguyên nhân giá lúa giảm là do các doanh nghiệp xuất khẩu lương thực gặp nhiều khó khăn nên doanh nghiệp mua lúa với giá thấp.

- Cây hàng năm: Toàn thành phố gieo trồng cây hàng năm khoảng 14.797 ha, cao hơn cùng kỳ 1.121 ha. Nguyên nhân: Diện tích tăng tập trung chủ yếu cây mè ở quận Ô Môn, Thốt Nốt do vụ lúa Đông xuân năm nay thời tiết không thuận lợi và có rất nhiều diện tích lúa bị cháy rầy, giá lúa xuống rất thấp nên bà con chuyển sang trồng cây mè; Ngoài ra do giá rau, màu đang đứng ở mức cao đảm bảo lợi nhuận sau khi thu hoạch nên bà con nông dân chuyển sang trồng màu và UBND quận, huyên đang phát động bà con nông dân phát triển diện tích rau, màu sạch, chất lượng cao cung cấp cho thị trường. Diện tích đã thu hoạch được khoảng 12.637 ha cây hằng năm khác, nhanh hơn cùng kỳ 9,18%; Năng suất các cây hàng năm khác ổn định so với cùng kỳ. Ngành Nông nghiệp tiếp tục triển khai các đề tài, dự án, mô hình giúp nông dân giảm chi phí, tăng thu nhập trong sản xuất như: dự án WB6, VnSAT, dự án xây dựng mô hình sản xuất rau theo hướng VietGAP,… Theo dõi và hướng dẫn HTX rau an toàn Long Tuyền duy trì sản xuất sản phẩm rau an toàn phù hợp với Quy trình VietGAP (giấy chứng nhận sản phẩm phù hợp với 5 Quy trình VietGAP với diện tích 10,22 ha, sản xuất các chủng loại Bí, dưa hấu, ớt, khổ qua, cà chua, dưa leo, dưa lê). Mô hình trồng rau, dưa lưới theo công nghệ Israel: 0,9 ha tại Công ty TNHH Đầu tư và phát triển Minh Hòa, Cái Khế, Ninh Kiều; Mô hình trồng rau nhà lưới kết hợp tưới phun mưa tự động: 0,2 ha tại Thốt Nốt, Thới Lai;...

          Trong tháng, có 51 ha nhiễm dịch hại, cao hơn 36 ha so với cùng kỳ năm 2018, các đối tượng dịch hại xuất hiện trong tháng như bọ trĩ/bầu bí dưa 7 ha, bệnh phấn trắng/bầu bí dưa 7 ha, sâu đục trái/đậu các loại 6 ha,... tại trung tại huyện Phong Điền và quận Cái Răng .

- Cây lâu năm: Diện tích cây ăn quả ước khoảng 19.369 ha, chiếm 92,4% tổng diện tích cây lâu năm, tăng 1.107 ha, bằng 6,06% so cùng kỳ. Chủ yếu tăng ở nhóm cây nhiệt đới, cận nhiệt đới tăng 3,96%. cây xoài tăng 1,49%; sầu riêng tăng 188 ha; Na(mãng cầu) tăng 156 ha;...

           Nguyên nhân:

Thời gian qua, các quận, huyện trên địa bàn thành phố được các cấp chính quyền, ngành Nông nghiệp và phát triển Nông thôn đầu tư đê bao khép kín bảo vệ vườn cây ăn quả, vận động nông dân cải tạo vườn tạp và đẩy mạnh chuyển đổi một số diện tích đất trồng lúa ngày càng bạc màu do hằng năm nước lũ về thấp làm cho chi phí sản xuất tăng cao trong khi năng suất lại giảm, chuyển sang phát triển vườn cây ăn trái để tăng hiệu quả kinh tế. Được trợ giá cây giống, nhiều hộ dân mạnh dạn chuyển đổi sang trồng các loại cây ăn trái mang lại hiệu quả kinh tế cao. Với định hướng phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị, hiện nay đã xây dựng được 12 vườn cây ăn trái kết hợp phát triển du lịch sinh thái, lợi nhuận cao gấp 1,5- 2 lần so với trồng chuyên cây ăn trái và triển khai kế hoạch xây dựng vùng sản xuất vú sữa, xoài và nhãn theo tiêu chuẩn VietGAP, cụ thể: HTX Trường Thuận 1, Phong Điền 9,85 ha; Tổ liên kết sản xuất cây ăn trái VietGAP Phong Điền 7,55 ha cam, nhãn Ido, vú sữa; HTX Vú Sữa Trường Khương A 45,5 ha; HTX Xoài Lộc Hưng 30,5 ha; HTX Trái Cây Tân Lộc 15,8 ha nhãn; HTX nhãn Nhơn Nghĩa 19,1 ha; cá thể trồng cam tại Tân Thới, Phong Điền 01 ha;... và 06 mô hình tưới phun nước tự động trên cây ăn trái với 11,5 ha tại Ô Môn, Cái Răng, Thốt Nốt, Phong Điền...

         Ngoài ra, các hộ dân còn tận dụng các phần diện tích bờ đê quanh ao nuôi thủy sản để trồng một số loại cây ăn quả để tăng thêm thu nhập. Bên cạnh đó nhiều hộ dân trồng xen canh các loại cây ăn quả (mật độ như trồng trần) để thay thế các vườn cây bị già cỗi, năng suất thấp từ các năm trước, khi người dân chặt bỏ các vườn cây già cỗi, năng suất thấp để các cây trồng xen canh phát triển nên diện tích trồng mới, diện tích chưa cho sản phẩm và diện tích cho sản phẩm có sự biến động đáng kể.

Hiện nay toàn thành phố có 58 cơ sở sản xuất kinh doanh giống cây ăn trái với năng lực cung ứng 650.000 cây/năm.

          Diện tích nhãn nhiễm bệnh chổi rồng 256 ha: trong đó diện tích nhiễm nặng 16 ha (tỷ lệ bệnh >40%), diện tích nhiễm trung bình 42 ha (tỷ lệ bệnh 20-40%), diện tích nhiễm nhẹ 198 ha (10-20%).

1.2. Chăn nuôi

Trong tháng, trên địa bàn thành phố không xảy ta dịch bệnh tai xanh ở heo, lở mồm long móng trên gia súc và bệnh cúm gia cầm.

Bệnh dịch tả heo Châu Phi từ ngày 23/5/2019 đến ngày 30/9/2019 bệnh xảy ra tại 2.336 hộ chăn nuôi heo thuộc 76 xã, phường của 09 quận, huyện. Tổng số heo trong ổ dịch khoảng 65 ngàn con, số heo bệnh, chết và buộc phải tiêu hủy là 58 ngàn con với khối lượng khoảng 3.346 tấn. Số heo theo dõi tại 14 hộ chăn nuôi là 438 con. Ngành Nông nghiệp đã thực hiện các giải pháp đồng bộ để phòng, chống dịch theo quy định. Dịch tả heo Châu Phi có dấu hiệu chậm lại, số hộ bình quân xảy ra dịch bệnh trong ngày khoảng 5 hộ (27 hộ/ngày trong tháng 8/2019), số con tiêu hủy bình quân trong ngày khoảng 62 con (674 con/ngày trong tháng 8/2019).

            Hiện trên địa bàn thành phố có 13 cơ sở sản xuất giống gia súc, gia cầm. Trong đó có 8 cơ sở chăn nuôi heo sản xuất con giống, với khả năng cung cấp gần 5.000 con giống/năm và 5 cơ sở chăn nuôi vịt sản xuất con giống, với khả năng cung ứng khoảng 700.000 – 750.000 con giống/năm; Cơ sở nuôi giữ heo đực giống hiện có 29 cơ sở với tổng đàn 127 con; Hàng năm sản xuất và tiêu thụ khoảng 110.000 – 115.000 liều tinh.

 Trong tháng, giá heo hơi tăng nhanh vì nhiều tiểu thương, doanh nghiệp đẩy mạnh thu mua để xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, trong khi nguồn cung heo hơi đang giảm mạnh vì bị thiệt hại do bệnh dịch tả heo châu Phi, phía người nuôi thì tạm thời chưa mạnh dạn tái đàn hoặc tận dụng chuồng trại nuôi vịt, gà,… Giá vịt ta hơi ở mức từ 45.000 – 50.000 đồng/kg, vịt xiêm 65.000 – 70.000 đồng/kg; Gà thả dao động khoảng 110.000-115.000 đồng/kg. Trong khi chi phí thức ăn, tấm cám ở mức khá cao, giá đầu ra của gia cầm hiện tại vẫn đảm bảo có lợi cho người nuôi.

 Ngành chăn nuôi thành phố phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gắn với thị trường, các mô hình liên kết trong chăn nuôi theo chuỗi giá trị; khuyến khích mở rộng quy mô chăn nuôi theo hướng tập trung an toàn sinh học, đảm bảo vệ sinh môi trường; các mô hình chăn nuôi theo hướng nông nghiệp đô thị; tập trung công tác quản lý giống vật nuôi, quản lý chặt chẽ việc tái đàn, kiểm soát yếu tố giống, cải tiến nhằm nâng cao chất lượng con giống, hiệu quả chăn nuôi.

 

                 2. Lâm nghiệp

 Với vị trí địa lý của thành phố Cần Thơ hiện nay, diện tích trồng cây lâm nghiệp tập trung không còn, bà con nông dân chỉ trồng cây phân tán ở những vùng đất nhỏ lẻ ven các tuyến lộ giao thông nông thôn... tiếp tục chăm sóc các cây lâm nghiệp trồng phân tán đã trồng, đồng thời khai thác các cây đủ tiêu chuẩn phục vụ cho nhu cầu xây dựng, làm chất đốt trong đời sống....

3. Thủy sản

 Trong tháng, diện tích nuôi thuỷ sản đã thu hoạch, được tiến hành cải tạo để thả nuôi cho vụ mới; Hiện nay giá cá tra giảm sâu ở mức 19.000 – 19.500 đ/kg, (cá từ 650 – 800 g/con), với giá này người nuôi lỗ 3.000 – 4.500 đồng/kg (giá thành cá tra 22.000 – 24.000 đồng/kg). Giá giảm mạnh so với các tháng đầu năm vì người dân thả nuôi quá nhiều làm cung vượt cầu. Nhiều người cho rằng đây chỉ là diễn biến tạm thời bởi doanh nghiệp xuất khẩu cá tra đã chủ động nguồn cá nguyên liệu tự nuôi và nuôi liên kết với hộ dân, cộng với lượng hàng trong kho có sẵn, cơ bản đáp ứng hợp đồng xuất khẩu trong những cuối năm, nên doanh nghiệp tạm thời hạn chế thu mua cá tra là nguyên nhân chính dẫn đến giảm giá cá tra. Với tình hình giá như trên người nuôi cá tra hiện nay rất khó khăn. Dự kiến diện tích nuôi cá tra có giảm nhưng không nhiều vì người nuôi có nhiều kinh nghiệm treo ao chờ giá.

 Tình hình dịch hại trên thủy sản: Xuất hiện rải rác các bệnh gan thận mủ, phù đầu, xuất huyết trong các ao nuôi cá tra, đặc biệt các ao ương cá giống và ao mới thả giống, tỷ lệ hao hụt cá tra thả nuôi cao do khan hiếm con giống chất lượng không cao. Ngành Nông nghiệp khuyến cáo người nuôi cần chuẩn bị ao nuôi đúng quy trình kỹ thuật, chọn con giống khỏe, có nguồn gốc rõ ràng, có kiểm dịch của cơ quan thủy sản.

 Tình hình khai thác thủy sản: Do vào mùa mưa, số hộ khai thác tăng, nguồn thủy sản ngoài tự nhiên sinh sản nhiều và phát triển tốt, nên sản lượng khai thác trong tháng có phần tăng hơn so với cùng kỳ năm trước.

            Hiện nay, có 199 cơ sở sản xuất, kinh doanh giống thủy sản trên địa bàn TP Cần Thơ. Trong tháng đầu năm sản xuất ước được 35 triệu con cá tra giống cung cấp nhu cầu nuôi của thành phố và các tỉnh lân cận. Hiện nay, giá cá tra giống dao động từ 17.000 – 21.000 đồng/kg giảm khoảng 2.000 đồng/kg so với tháng trước, cá giống kích cỡ 2 cm chiều cao thân – mẫu 30 con/kg giá từ 17.000 – 18.000 đồng/kg, giá cá giống 1,5 cm chiều cao thân – mẫu 70 con/kg giá từ 20.000 – 21.000 đồng/kg.

 Hiện tại các công ty chế biến thủy sản trên địa bàn TP Cần Thơ có khuynh hướng xây dựng vùng nuôi tập trung để ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào cho nhà máy chế biến. Ngành Nông nghiệp đang chú trọng phát triển các mô hình nuôi theo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa thủy sản. Đến nay, có 02 HTX nuôi cá tra với diện tích 27 ha; 43 hộ tham gia liên kết sản xuất với các nhà máy với diện tích 144 ha; 20 vùng nuôi của 07 doanh nghiệp tham gia nuôi cá tra với diện tích 169,7 ha và tổng diện tích nuôi thủy sản ATTP theo tiêu chuẩn đạt 228,5 ha, bao gồm: 214,75 ha VietGAP (trong đó có 17 ha BMP+ASC) và 13,5 ha BAP+ASC.

               

 

 III. ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

  Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước ĐP quản lý

 Ước thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện tháng 10 năm 2019 được 471,36 tỷ đồng. Trong đó vốn cân đối ngân sách thành phố thực hiện được là 70,20 tỷ đồng, vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện được 11,65 tỷ đồng, vốn nước ngoài ODA 157,4 tỷ đồng, vốn xổ số kiến thiết 40,49 tỷ đồng, nguồn vốn khác thực hiện được 45,56 tỷ đồng, vốn ngân sách cấp huyện được 146,05 tỷ đồng.

 Ước thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện 10 tháng năm 2019 là 3.735,52 tỷ đồng bằng 74,97% so kế hoạch năm đã điều chỉnh. Trong đó, vốn cân đối ngân sách thành phố là 786,14 tỷ đồng đạt 83,95% so kế hoạch năm. Vốn trung ương hỗ trợ theo mục tiêu thực hiện  được 289,4 tỷ đồng đạt 90,06% so kế hoạch năm. Vốn nước ngoài ODA thực hiện được là 781,83 tỷ đồng đạt 60,00% so kế hoạch năm. Nguồn vốn từ xổ số kiến thiết thực hiện 298,89 tỷ đồng đạt 66,37% so với kế hoạch năm, nguồn vốn khác thực hiện được 377,52 tỷ đồng đạt 83,68% so với kế hoạch năm, vốn ngân sách cấp huyện thực hiện 1.201,74 tỷ đạt 79,03% kế hoạch năm.

 Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý từ đầu năm đến nay thực hiện thấp so với kế hoạch điều chỉnh, ngày 01 tháng 10 năm 2019, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ theo Quyết định số 2337/QĐ-UBND về việc điều chỉnh kế hoạch đầu tư công vốn nước ngoài nguồn ngân sách Trung ương năm 2019.

           Những tháng cuối năm 2019, các chủ đầu tư đang nhanh chóng triển khai các gói thầu mới (các hạng mục công trình thuộc dự án lớn), cụ thể như dự án phát triển thành phố Cần Thơ và tăng cường khả năng thích ứng của đô thị một số hợp phần đang lập thiết kế dự toán; Ngoài ra, một số chủ tư đã chuyển vốn những dự án có tiến độ thực hiện không đạt yêu cầu sang những dự án đang thiếu vốn thực hiện, cụ thể là những dự án do Sở Y tế thành phố làm chủ đầu tư đã chuyển vốn nội bộ 43 tỷ; một số công trình, dự án mới hiện đang trong giai đoạn thỏa thuận, bồi thường và chuẩn bị mặt bằng.

            Tình hình thực hiện một số dự án chủ yếu trên địa bàn Thành phố:Dự án phát triển thành phố Cần Thơ và tăng cường khả năng thích ứng của đô thị, Dự án có tổng mức đầu tư 7.339,33 tỷ đồng, được thực hiện bằng nguồn vốn ODA, do Ban quản lý ODA thành phố Cần Thơ làm chủ đầu tư. Kế hoạch vốn năm 2019 được giao 984,9 tỷ đồng (đã điều chỉnh). Dự tính thực hiện lũy kế từ đầu dự án đến cuối tháng 10/2019, thực hiện được 3.182,35 tỷ đồng, đạt 43,36% tổng mức đầu tư toàn dự án, dự tính tháng 10 năm 2019 thực hiện được 105,6 tỷ đồng.

 Dự án mở rộng đường Quang Trung Cái Cui, dự án có tổng mức đầu tư là 1.097 tỷ đồng do Sở Giao thông vận tải thành phố làm chủ đầu tư. Kế hoạch vốn năm 2019 là 100 tỷ đồng. Dự tính thực hiện lũy kế từ đầu dự án đến cuối tháng 10 năm 2019 ước thực hiện 1.080 tỷ đồng đạt 98,47% so với tổng mức đầu tư toàn dự án.

 Dự án Bệnh viện Ung Bướu, dự án có tổng mức đầu tư là 1.727,94 tỷ đồng do Sở Y tế Cần Thơ làm chủ đầu tư. Kế hoạch vốn năm 2019 là 810 tỷ đồng. Dự tính thực hiện lũy kế từ đầu dự án đế cuối tháng 10 năm 2019 đạt 324,49 tỷ đồng đạt 18,78% so với tổng mức toàn dự án.

            Dự án xây dựng Cầu Quang Trung, dự án có tổng mức đầu tư là 227,92 tỷ đồng do Ban ODA làm chủ đầu tư, hiện nay dự án đang hoàn thiện nền móng và chuẩn bị hợp long nhịp giữa. Dự kiến dự án sẽ hoàn thành vào tháng 04/2020 phục vụ nhu cầu đi lại của người dân.          .

 Dự án Đường tỉnh 922 (xây dựng và nâng cấp giai đoạn 1 từ quốc lộ 91B đến Cờ Đỏ), dự án có tổng mức đầu tư là 1.494,62 tỷ đồng do Ban quản lý dự án đầu tư thành phố làm chủ đầu tư, được thực hiện bằng nguốn vốn trái phiếu chính phủ, năm 2019 dự án được thực hiện bằng nguồn vốn của năm 2018 kéo dài là 670,71 tỷ đồng, tiến độ thực hiện đến tháng 10 năm 2019 đạt khoảng 10% tổng mức đầu tư toàn dự án.

                 IV. THƯƠNG MẠI

       1. Giá cả thị trường

               Thị trường hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn thành phố diễn ra trong tháng khá sôi động. Hàng hóa, tiêu dùng đa dạng, phong phú. Nhìn chung giá cả của nhiều mặt hàng, dịch vụ tiêu dùng tương đối ổn định. Riêng mặt hàng thịt heo đang tăng giá mạnh, do nguồn cung thịt heo hơi đang thiếu hụt sau đợt dịch tả lợn châu Phi hoành hành, thêm vào đó nhu cầu của thị trường đang tăng mạnh vào dịp cuối năm đã đẩy giá heo hơi trên địa bàn tăng cao. Giá gas, giá xăng, dầu cũng được điều chỉnh tăng mạnh vào đầu tháng. Đây là những nguyên nhân chính tác động đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2019.

              Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2019 tăng 0,65% so với tháng trước, tăng 2,71% so với tháng 12/2018, tăng 2,17% so với tháng 10/2018. Bình quân 10 tháng năm 2019, CPI tăng 1,47% so với cùng kỳ năm 2018.

              Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính:

               + 08 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng với mức tăng từ 0,01% đến 1,26% so với tháng trước, gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,26%, May mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,03%, Nhà ở, điện, nuớc, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,48%, Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,12%, Giao thông tăng 1,18%, Giáo dục tăng 0,02%, Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,02%, Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,01%.

               + 03 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá bằng 100% so tháng trước gồm: Đồ uống và thuốc lá; Thuốc và dịch vụ y tế; Bưu chính viễn thông.

Diễn biến giá tiêu dùng tháng 10 của các nhóm hàng chính:

              - Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 

  Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,26% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 4,18%, so với tháng 12 năm trước tăng 3,91%.

                + Lương thực

Chỉ số nhóm lương thực tăng 0,77% so với tháng trước. Giá nhóm lương thực tăng do tác động tăng giá của mặt hàng gạo tẻ, gạo nếp, khoai lang, khoai mì tăng, Nguyên nhân: giá gạo tăng do ảnh hưởng của đợt triều cường vừa qua đã tác động làm tăng giá gạo ở một số địa phương, giá gạo nếp cũng tăng nhẹ do nhu cầu thu mua lúa nếp chuẩn bị nguồn hàng cho dịp cuối năm đang tăng, giá khoai lang, khoai mì tăng mạnh do nguồn cung giảm, nước lũ dâng cao đã ảnh hưởng đến diện tích sản xuất, năng suất cây trồng.

           Trên địa bàn thành phố gạo tẻ thường Hàm Châu giá phổ biến 12.000đ/kg-13.000đ/kg; gạo tẻ thường Tài Nguyên giá 13.000đ/kg-14.500đ/kg, gạo tẻ ngon thơm Đài Loan giá 16.000đ/kg-17.000đ/kg, gạo tẻ ngon thơm Thái Lan giá 14.000đ/kg-16.000đ/kg, giá gạo nếp thường (nếp lá) dao động từ 15.000đ/kg-17.000đ/kg, gạo nếp ngon (nếp Thái) dao động từ 18.000đ/kg-21.000đ/kg.

+ Thực phẩm

           Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 1,86% so với tháng trước, tăng ở các nhóm mặt hàng:

Thịt gia súc tươi sống tăng 7,78% so với tháng trước, trong đó thịt heo tăng 9,02%, thịt bò tăng 0,48%, nội tạng heo tăng 4,97%. Do giá heo hơi hiện nay đang đạt đỉnh và sắp tới là nhu cầu tiêu thụ của thị trường dịp cuối năm và dịp Tết Nguyên đán sẽ còn tăng rất cao. Tại các chợ trên địa bàn thành phố giá thịt ba chỉ heo khoảng từ 90.000-110.000 đồng/kg, thịt nạc mông giá khoảng 85.000-90.000 đồng/kg, nạc thăn từ 90.000-100.000 đồng/kg, sườn non từ 130.0000-150.000 đồng/kg, cật heo giá từ 100.000-110.000 đồng/kg, bao tử heo giá từ 110.000-120.000 đồng/kg, tim heo giá từ 150.000-160.000 đồng/kg.

          Nhóm thịt gia cầm tươi sống tăng 1,03% so với tháng trước do giá gà thịt tăng, giá vịt xiêm (ngan) tăng. Nguyên nhân do nhu cầu nguyên liệu của thị trường dịp cuối năm đang tăng lên, người tiêu dùng đang chuyển sang sử dụng các thực phẩm thay thế khác như thịt gia cầm, thịt bò, thủy sản… khi giá thịt heo đang tăng cao từng ngày.

           Nhóm thịt chế biến tăng 1%, dầu mỡ ăn và các loại chất béo khác tăng 0,34% so với tháng trước. Nguyên nhân do tác động tăng giá của giá thịt heo hơi.

Nhóm rau tươi, khô và chế biến tăng 1,87% so với tháng trước. Nguyên nhân giá rau tươi tại các chợ tăng do tác động của nước lũ tràn về trong tháng 9 vừa qua đã ảnh hưởng đến nhiều diện tích trồng rau của người nông dân, thời tiết chuyển mùa không thuận lợi cho việc gieo trồng một số loại rau xanh cũng tác động làm tăng giá rau tươi tại các chợ.

          Nhóm quả tươi, chế biến tăng 1,14% so với tháng trước do tác động tăng giá của mặt hàng thanh long, dưa hấu, khóm và một số loại quả khác. Nguyên nhân do giá mua vào tăng, do nguồn cung giảm do chưa đến vụ thu hoạch, việc xuất khẩu mặt hàng thanh long sang thị trường Trung Quốc đã tăng trở lại.

Nhóm đường mật tăng 1,25% so với tháng trước do nhu cầu tiêu dùng nhóm mặt hàng này đang tăng lên trong dịp cuối năm.

          Bên cạnh các mặt hàng tăng giá, nhóm thực phẩm có các mặt hàng giảm giá như:

Nhóm thủy sản tươi sống giảm 0,40% so với tháng trước. Nguyên nhân do nước lũ đã về nên nguồn cá đồng đang tăng lên tác động làm giá cá đồng, cá nuôi giảm nhẹ.

         Giá trứng gia cầm các loại giảm 2,05% so với tháng trước do nguồn cung trứng đang dồi dào trong khi nhu cầu nguyên liệu của thị trường chưa tăng, nhu cầu tiêu dùng của người dân vẫn ổn định.

Nhóm các loại đậu và hạt giảm 0,36% so với tháng trước do giá một số loại đậu đen, đậu xanh giảm giá vì vào mùa thu hoạch.

          Nhóm đồ gia vị giảm 0,84% so với tháng trước do giá hồ tiêu giảm.

Dịch vụ ăn uống ngoài gia đình ổn định so với tháng trước.

- May mặc, mũ nón, giầy dép

Chỉ số giá nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,03% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 0,41%, so với tháng 12 năm trước tăng 0,42%. Nguyên nhân do giá một số sản phẩm quần áo, may mặc tăng giá trở lại sau đợt giảm giá của tháng trước.

- Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng

Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện, nuớc, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,48% so với tháng trước, tăng 0,46% so với tháng cùng kỳ năm trước, tăng 1,43% so với tháng 12 năm trước. Nguyên nhân do giá gas tăng mạnh từ ngày 01/10, tăng thêm 24.000 đồng/bình 12kg, tăng 7,92% so với tháng trước. Giá dầu hỏa điều chỉnh 2 đợt vào 01/10 và 16/10, tổng 2 đợt điều chỉnh giá dầu hỏa giảm 110 đồng/lít so với giá thời điểm cuối tháng 9, tuy nhiên giá dầu hỏa bình quân tháng 10 vẫn tăng hơn giá dầu bình quân tháng 9, tăng 1,11%.

Bên cạnh đó, giá vật liệu xây dựng trong tháng giảm do tác động của giá thép xây dựng giảm. Nguyên nhân do giá thép thế giới giảm vì dư thừa nguồn cung lẫn khó khăn ở thị trường xuất khẩu của thép Trung Quốc, các công ty sản xuất trong nước cũng gặp áp lực bởi thép Trung Quốc. Trong khi đó giá xi măng đang tăng nhẹ do chi phí đầu vào tăng.

Trong tháng lượng mua đã giảm, tuy nhiên do thời tiết chuyển mùa, không khí đã mát mẻ hơn nên nhu cầu sử dụng điện, nước trong tháng giảm so với tháng trước, chỉ số giá nước sinh hoạt giảm 0,22%, chỉ số giá điện sinh hoạt giảm 0,38%.

- Thiết bị và đồ dùng gia đình

Chỉ số nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,12% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 2,62%, so với tháng 12 năm trước tăng 2,32%. Chỉ số nhóm này tăng chủ yếu ở nhóm đồ dùng trong nhà tăng 0,09% so với tháng trước, nhóm dịch vụ trong gia đình tăng 1,32% so với tháng trước. Nguyên nhân do việc tăng giá ở một số mặt hàng đồ điện, thìa, muỗng inox, dao kéo làm bếp, ly, cốc, lọ hoa, cá sản phẩm hóa mỹ phẩm, pin, đèn pin. Các mặt hàng này tăng giá do chi phí sản xuất tăng, nhu cầu tiêu dùng đang tăng lên nhất là dịp cuối năm và đầu năm mới. Nhóm dịch vụ trong gia đình tăng giá do việc tăng giá của dịch vụ sửa chữa, bão dưỡng máy điều hòa nhiệt độ tăng lên do tăng chi phí nhân công trong dịp cuối năm, nhu cầu sử dụng các dịch vụ trong gia đình cũng đang tăng vào dịp cuối năm nên đã tác động làm tăng giá.

 

 

- Giao thông

Chỉ số giá nhóm Giao thông tăng 1,18% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 3,59%, so với tháng 12 năm trước tăng 4,71%. Chỉ số nhóm này tăng chủ yếu do tác động tăng giá của nhóm phụ tùng, tăng 0,13% so với tháng trước, nhóm nhiên liệu tăng 2,05% so với tháng trước. Nguyên nhân:

Nhóm phụ tùng tăng do giá một số loại phụ tùng xe máy tăng giá vì chi phí sản xuất tăng.

Giá nhóm nhiên liệu tăng do việc điều chỉnh giá xăng, dầu vào ngày 01/8/2019 và ngày 16/8/2019 làm giá xăng dầu bình quân trong tháng tăng 2,24% so với tháng trước. Hiện giá xăng giá xăng A95 III là 20.790 đồng/lít, xăng E5 là 19.470 đồng/lít, Diesel 0,05S-II là 16.520 đồng/lít.

- Giáo dục

Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 0,02% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 3,85%, tăng 3,83% so với tháng 12 năm trước. Chỉ số giá nhóm này tăng do tác động của nhóm mặt hàng văn phòng phẩm và đồ dùng học tập khác tăng giá (ngoài vở, tập, sách) do chi phí nguyên liệu, sản xuất đang có xu hướng tăng.

- Văn hóa, giải trí và du lịch

Chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,02% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 1,30%, so với tháng 12 năm trước tăng 1,29%. Chỉ số nhóm này tăng do tác động của nhóm hàng đồ chơi tăng 0,10% so với tháng trước, hoa cây cảnh tăng 0,66% so với tháng trước. Nguyên nhân do chi phí sản xuất tăng, nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng cờ, bài các loại đang có xu hướng tăng vào dịp cuối năm, giá hoa tươi tăng nhất là hoa hồng, hoa cúc tăng do nhu cầu tiêu dùng tăng trong tháng trong khi nguồn cung vẫn ổn định.

- Hàng hóa và dịch vụ khác

Chỉ số nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,01% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 2,64%, so với tháng 12 năm trước tăng 2,20%. Chỉ số nhóm này tăng do tác động của nhóm vật dụng về hỉ như thiệp cưới, hoa cưới tăng giá do giá hoa tươi tăng, nhu cầu tiêu dùng đang tăng trong mùa cưới hỏi. Trong khi đó nhóm hàng đồ dùng cá nhân giảm 0,02% so với tháng trước do tác động của giá vàng trang sức giảm trong tháng.

 - Chỉ số giá vàng

Chỉ số giá vàng tháng 10/2019 giảm 0,64% so với tháng trước, tăng 20,02% so với tháng cùng kỳ năm trước và tăng 18,03% so với tháng 12 năm trước. Nguyên nhân do giá vàng trong nước, giá bình quân tháng 10  giảm so với giá bình quân tháng trước và do ảnh hưởng của giá vàng thế giới. Giá vàng nhẫn 99,99 ngày 21/10/2019 trên địa bàn thành phố dao động quanh mức 4.190.000đ/chỉ.

- Chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá đô la Mỹ ổn định so với tháng trước, giảm 0,51% so với tháng 10 năm trước, giảm 0,42% so với tháng 12 năm trước. Nguyên nhân là do việc điều hành giữ ổn định tỷ giá USD/VND của Ngân hàng Nhà nước. Giá đô la Mỹ ngày 21/10/2019 trên địa bàn thành phố dao động quanh mức 23.270 đồng/USD.

2. Nội thương

Tình hình kinh doanh của các Doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh cá thể trên địa bàn thành phố Cần Thơ 10 tháng đầu năm tiếp tục tăng trưởng tương đối ổn định. Tuy nhiên, trong những ngày đầu tháng 10 triều cường dâng cao đã làm việc kinh doanh mua bán của các hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp gặp khó khăn.

Ước tháng 10/2019, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ đạt 11.145,12 tỷ đồng tăng 10,66% so cùng kỳ, trong đó thành phần kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất đạt 6.564,10 tỷ đồng tăng 10,42% so cùng kỳ, thành phần kinh tế cá thể đạt 3.271,21 tỷ đồng tăng 10,92% so cùng kỳ, thành phần kinh tế Nhà nước đạt 1.093,81 tỷ đồng tăng 9,30% so cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế thì ngành Thương nghiệp chiếm 81,83% trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tháng 10/2019 đạt 9.120,51 tỷ đồng tăng 9,81% so cùng kỳ. Khách sạn nhà hàng ước đạt 863,02 tỷ đồng tăng 15,21% so cùng kỳ. Du lịch lữ hành ước đạt 39,55 tỷ đồng tăng 10,05% so cùng kỳ. Dịch vụ ước đạt 1.122,05 tỷ đồng tăng 12,20% so với cùng kỳ.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn Thành phố ước tính 10 tháng năm 2019 đạt 111.270,63 tỷ đồng tăng 10,81% so cùng kỳ, trong đó thành phần kinh tế tư nhân ước đạt 65.481,62 tỷ đồng tăng 11,02% so cùng kỳ, thành phần kinh tế cá thể ước đạt 32.703,01 tỷ đồng tăng 10,91% so cùng kỳ, thành phần kinh tế Nhà nước ước đạt 10.925,96 tỷ đồng tăng 9,40% so cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế thì ngành Thương nghiệp chiếm 81,80% trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 10 tháng năm 2019, ước đạt 91.022,49 tỷ đồng tăng 10,19% so cùng kỳ; Khách sạn nhà hàng ước đạt 8.627,47 tỷ đồng tăng 15,27% so cùng kỳ. Du lịch lữ hành ước đạt 411,33 tỷ đồng tăng 10,32% so cùng kỳ. Dịch vụ ước đạt 11.209,33 tỷ đồng tăng 12,55% so với cùng kỳ.

V. GIAO THÔNG VẬN TẢI

- Vận tải hàng hoá: Tháng 10/2019, ước vận chuyển 822,46 ngàn tấn hàng hoá tăng 3,27% so cùng kỳ; (luân chuyển đạt 140,08 triệu T.Km đạt 102,61% so cùng kỳ). Ước 10 tháng năm 2019 vận chuyển 8.521,85 ngàn tấn hàng hóa tăng 3,14% so cùng kỳ; luân chuyển đạt 1.351,03 triệu T.Km đạt 101,66% so cùng kỳ.

Chia ra: Đường bộ tháng 10/2019, ước vận chuyển đạt 312,28 ngàn tấn tăng 3,37% so cùng kỳ (luân chuyển 56,90 triệu T.Km đạt 102,32% so cùng kỳ). Đường sông ước vận chuyển đạt 486,84 ngàn tấn tăng 3,20% so cùng kỳ (luân chuyển 59,85 triệu T.Km đạt 102,87% so cùng kỳ). Đường biển ước vận chuyển đạt 23,33 ngàn tấn tăng 3,20% so cùng kỳ (luân chuyển 23,33 triệu T.Km đạt 102,68% so cùng kỳ).

- Vận tải hành khách: Tháng 10/2019, ước vận chuyển 5.543,90 ngàn lượt hành khách tăng 3,29% so cùng kỳ; (luân chuyển 88,83 triệu lượt HK.Km đạt 102,69% so cùng kỳ). Ước 10 tháng năm 2019 vận chuyển 50.002,38 ngàn lượt HK tăng 3,08% so cùng kỳ; luân chuyển đạt 829,98 triệu HK.Km đạt 102,33% so cùng kỳ.

Chia ra: Đường bộ tháng 10/2019, ước vận chuyển 3.916,97 ngàn lượt HK tăng 3,25% so cùng kỳ (luân chuyển 86,63 triệu HK.Km đạt 102,70% so cùng kỳ). Đường sông ước vận chuyển 1.626,93 ngàn lượt HK tăng 3,37% so cùng kỳ (luân chuyển 2,20 triệu HK.Km đạt 102,35% so cùng kỳ).

- Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải: Tháng 10/2019 doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước thực hiện 270,88 tỷ đồng, tăng 13,05% so cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách thực hiện 76,28 tỷ đồng tăng 13,42%; vận tải hàng hóa thực hiện 138,81 tỷ đồng, tăng 12,96%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 55,79 tỷ đồng, tăng 12,52% so cùng kỳ.

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước 10 tháng năm 2019 thực hiện 2.587,25 tỷ đồng, tăng 11,64% so cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách thực hiện 706,03 tỷ đồng tăng 10,54%; vận tải hàng hóa thực hiện 1.295,44 tỷ đồng, tăng 12,70%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 585,78 tỷ đồng, tăng 10,75% so cùng kỳ.

VI. NGÀNH TÀI CHÍNH - TÍN DỤNG

1. Tài chính ngân sách

* Thu ngân sách: Thực hiện đến 20 ngày tháng 10/2019, tổng thu NSNN 10.428,89 tỷ đồng đạt 69,64% dự toán, trong đó thu nội địa là 8.450,99 tỷ đồng với các nguồn thu chủ lực như thu thuế khu vực công thương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc doanh 1.969 tỷ đồng đạt 93,18% dự toán, thu từ doanh nghiệp nhà nước 1.303,36 tỷ đồng đạt 81,21% so dự toán, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 852,38 tỷ đồng đạt 69,30% so dự toán, thuế thu nhập cá nhân 720,66 tỷ đồng đạt 81,89% so dự toán. Tính đến 20/10/2019 hoạt động thu thuế hải quan ước đạt 445,87 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 4,28% trong tổng thu ngân sách nhà nước và đạt 44,59% so dự toán.

* Chi ngân sách: Ước đến 20 ngày tháng 10/2019 ngân sách đã chi 7.773,26 tỷ đồng chiếm 64,49% dự toán, bao gồm hoạt động chi đầu tư phát triển 3.397,31 tỷ đồng, chi thường xuyên 4.298,62 tỷ đồng.

2. Tín dụng ngân hàng: Vốn huy động đến cuối tháng 10 năm 2019 ước đạt 78.700 tỷ đồng, tăng 0,95% so với đầu tháng, tăng 8,55% so với tháng 12/2018. Trong đó, vốn huy động VNĐ là 76.900 tỷ đồng, chiếm 97,71%, tăng 0,90%, vốn huy động ngoại tệ là 1.800 tỷ đồng, chiếm 2,29%, tăng 2,97% so với đầu tháng; vốn huy động ngắn hạn là 52.300 tỷ đồng, chiếm 66,45%, tăng 1,0%, vốn huy động trên 12 tháng là 26.400 tỷ đồng, chiếm 33,55%, tăng 0,83% so với đầu tháng.

Tổng dư nợ cho vay đến cuối tháng 10 năm 2019 ước đạt 85.800 tỷ đồng, tăng 1,07% so với đầu tháng, tăng 10,53% so với tháng 12/2018, trong đó dư nợ cho vay VNĐ đạt 81.500 tỷ đồng, tăng 1,08% so với đầu tháng, chiếm 94,99%, dư nợ cho vay ngoại tệ đạt 4.300 tỷ đồng, tăng 0,99% so với đầu tháng, chiếm 5,01% trong tổng dư nợ cho vay; Phân theo thời hạn dư nợ cho vay ngắn hạn là 46.300 tỷ đồng, tăng 1,14% so với đầu tháng, chiếm 53,96%, dư nợ cho vay trung dài hạn 39.500 tỷ đồng, tăng 0,99% so đầu tháng, chiếm 46,04% tổng dư nợ cho vay.

Nợ xấu đến cuối tháng 10 năm 2019 ước là 1.600 tỷ đồng, chiếm 1,86% trong tổng dư nợ cho vay.

Lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước. Lãi suất trên địa bàn phổ biến như sau:

- Lãi suất huy động VNĐ: Lãi suất huy động không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng phổ biến mức 0,2 - 1,0%/năm; lãi suất huy động có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng mức 5,0% - 5,5%/năm; lãi suất huy động từ 6 đến 12 tháng phổ biến 5,5% - 6,8%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng phổ biến ở mức 6,8% - 7,4%/năm tùy theo từng loại kỳ hạn. 

- Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên tối đa 6,5%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường phổ biến từ 7,0% - 9,0%/năm đối với ngắn hạn, 9,0% - 11%/năm đối với trung, dài hạn.

- Lãi suất USD: Lãi suất huy động thực hiện theo quy định là 0%/năm. Lãi suất cho vay phổ biến ngắn hạn 4,0% - 5,0%/năm, trung dài hạn 5,0% - 6,5%/năm.

VII. TÌNH HÌNH VĂN HOÁ - XÃ HỘI 

1. Văn hóa – Thể thao

Nghệ thuật:

- Trung tâm Văn hóa thành phố: Chuẩn bị tổ chức Liên hoan Dân ca Nam Bộ - Đờn ca tài tử thành phố Cần Thơ mở rộng năm 2019. Tổ chức lớp bồi dưỡng diễn viên múa phong trào (hình thức xã hội hóa) giảng dạy vào các buổi tối từ thứ Hai đến thứ Sáu hàng tuần (30 học viên).

- Nhà hát Tây Đô: Tổ chức biểu diễn 07 suất, thu hút 3.200 lượt người xem. Tổ chức biểu diễn chương trình sân khấu cải lương định kỳ “Dạ cổ Cầm Thi”, lần 2, ngày 28/9/2019, tại Nhà hát Tây Đô.

- Tổ chức 16 chương trình biểu diễn nghệ thuật định kỳ tại bến Ninh Kiều, Chợ nổi Cái Răng và Sân chơi tài tử Cầu đi bộ, thu hút từ 300 - 500 lượt người xem/chương trình.

Công tác thư việnHệ thống thư viện toàn thành phố phục vụ: 248.000 lượt người đọc và 450.427 lượt sách báo. Bổ sung sách Thư viện thành phố: 1.000 quyển sách. Tổ chức 05 cuộc triển lãm lưu động tại “Ngày hội du lịch sinh thái Phong Điền - Cần Thơ” lần thứ VIII năm 2019; Chương trình “Cùng em đọc sách” tại 04 trường tiểu học; phục vụ tổng cộng trên 10.000 lượt người xem. Hưởng ứng Tuần lễ “Học tập suốt đời” năm 2019, Thư viện thành phố đã thực hiện chính sách tăng gấp đôi số lượng sách và thời gian mượn sách của bạn đọc trong tháng 10/2019.

Công tác bảo tàng, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc: Tổ chức 23.234 phục vụ lượt khách tham quan tại Bảo tàng thành phố Cần Thơ, Trạm vệ tinh ngân hàng dữ liệu di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam tại Cần Thơ và các di tích LS-VH trên địa bàn thành phố. Thực hiện 24 hồ sơ khoa học của 29 hiện vật. Thực hiện kế hoạch giáo dục truyền thống và di sản văn hóa trong học đường năm học 2019 – 2020: Tổ chức chương trình “Khám phá di sản” tại trường THCS&THPT Tân Lộc có 1.500 học sinh và giáo viên tham dự; hướng dẫn 45 lượt học sinh Trường THCS Trường Xuân tham quan, học tập tại Di tích LS Khám lớn Cần Thơ; 04 chương trình “Tìm về di sản”, 06 chương trình “Hành trình theo chân Bác” cho 750 học sinh trên địa bàn huyện Phong Điền. Tổ chức triển lãm ảnh “50 năm thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, trình diễn, tặng chữ thư pháp và ký họa chân dung tại “Ngày hội Du lịch sinh thái Phong Điền – Cần Thơ” lần thứ VIII năm 2019, thu hút 3.300 lượt khách tham quan. Tổ chức triển lãm 38 ảnh trong Lễ khởi công xây dựng công trình Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Di tích lịch sử Lộ Vòng Cung, có 500 lượt khách tham quan. Xuất bản 1.000 ấn phẩm “Di tích lịch sử - văn hóa Địa điểm chiến thắng Ông Đưa năm 1960” bằng 2 ngôn ngữ Việt - Anh.

Thể thao quần chúngTổ chức Giải Việt dã TP. Cần Thơ năm 2019, nhân “Ngày hội Du lịch sinh thái Phong Điền - Cần Thơ” lần thứ VIII năm 2019, tại huyện Phong Điền, kết quả: hạng Nhất - huyện Phong Điền, hạng Nhì - huyện Thới Lai và hạng Ba - quận Ninh Kiều, thu hút 7.000 lượt người xem.

Thể thao thành tích cao: Tổ chức Vòng chung kết Giải Bóng đá thiếu niên U13 YAMAHA CUP 2019, từ ngày 05-06/10/2019, tại Sân vận động Cần Thơ, 06 đội bóng tham dự (thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ, các tỉnh Gia Lai, Đăk Lăk, Tiền Giang và An Giang), kết quả: thành phố Hồ Chí Minh - Vô địch, Đăk Lăk - hạng Nhì, Cần Thơ - hạng Ba.

2. Giáo dục

Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên các cấp học, bậc học đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ năm học mới và chuẩn bị triển khai Chương trình giáo dục phổ thông mới.

Các cấp học, bậc học tiếp tục triển khai thực hiện kế hoạch giáo dục nhằm tăng cường nề nếp, kỷ cương, dân chủ trong nhà trường; xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường; tập trung nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo; quan tâm phát triển phẩm chất, năng lực người học; chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống và ý thức chấp hành pháp luật cho học sinh. Tổ chức hội thi Giáo viên dạy giỏi trung học phổ thông cấp thành phố năm học 2019-2020 (vòng thi thực hành).

Các cơ sở quản lý giáo dục, các cơ sở giáo dục tiếp tục rà soát, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện đáp ứng triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới.

Phát động Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2019. Triển khai Ngày Pháp luật bằng nhiều hình thức phù hợp với đặc thù của từng đơn vị nhằm giáo dục ý thức và lợi ích của việc tôn trọng, tuân thủ, chấp hành pháp luật; xây dựng, bồi dưỡng, nhân rộng gương người tốt, việc tốt trong việc thực hiện pháp luật; phê phán, đấu tranh với hành vi vi phạm pháp luật hoặc lệch chuẩn xã hội; nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật gắn với xây dựng ý thức pháp luật, văn hóa pháp lý của người học, nhà giáo, cán bộ quản lý, người lao động trong ngành.

3. Về Y tế - khám chữa bệnh

Tình hình dịch bệnh ổn định, không có vụ dịch nguy hiểm xảy ra. Tuy nhiên trong tháng một số bệnh như: Sốt xuất huyết ghi nhận 449 trường hợp mắc, tăng 123 trường hợp so với tháng trước (326 trường hợp); Lũy tích từ đầu năm đến nay 1365 trường hợp mắc, tăng 608 trường hợp so cùng kỳ (757 trường hợp), không có tử vong. Tay chân miệng ghi nhận 543 trường hợp mắc, tăng 335 trường hợp so với tháng trước (208 trường hợp); Lũy tích từ đầu năm đến nay ghi nhận 1235 trường hợp mắc, tăng 580 trường hợp so cùng kỳ (655 trường hợp), không có tử vong. Sởi và sốt phát ban nghi sởi ghi nhận 10 trường hợp mắc, giảm 05 trường hợp so với tháng trước (15 trường hợp); Lũy tích từ đầu năm đến nay ghi nhận 392 trường hợp mắc, không có tử vong. Thủy đậu không ghi nhận trường hợp mắc, giảm 03 trường hợp so với tháng trước (03 trường hợp); Lũy tích từ đầu năm đến nay 26 trường hợp mắc, giảm 01 trường hợp so với cùng kỳ 2018 (27 trường hợp). SARS, cúm A (H5N1), cúm A (H1N1) không ghi nhận trường hợp mắc. Tiêu chảy 411 trường hợp, giảm 7,01% so với tháng trước.

Hoạt động Y tế dự phòng: Các đơn vị thực hiện tốt phương châm ~~Bốn tại chỗ~~, tăng cường kiểm tra công tác chuẩn bị phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, công tác vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh trước mùa mưa, bão, lũ lụt. Triển khai các giải pháp khẩn cấp chủ động phòng, chống dịch bệnh do triều cường.

Phối hợp Sở Giáo dục và Đào tạo, Đài Phát thanh và Truyền hình thành phố Cần Thơ đẩy mạnh tuyên truyền phòng, chống bệnh tay chân miệng, sởi trong mùa tựu trường.

Công tác phòng, chống HIV/AIDS: Lũy tích số nhiễm HIV phát hiện được 6.385 trường hợp; trong đó, tử vong 2.491 trường hợp, số nhiễm HIV còn sống 3.894 trường hợp. Duy trì điều trị ARV cho 3.196 trường hợp. Duy trì điều trị Methadone cho 382 bệnh nhân, lũy tích đến nay đạt 1.246 bệnh nhân.

Thực hiện giám sát hỗ trợ hoạt động rà soát và vận động người nhiễm HIV tham gia điều trị ARV năm 2019 các quận/huyện. Thực hiện hoạt động truyền thông, giáo dục để giới thiệu quảng bá dịch vụ tự xét nghiệm HIV trong nhóm nhỏ và thực hiện xét nghiệm HIV dựa vào cộng đồng.

Công tác khám chữa bệnh: Các cơ sở khám chữa bệnh thực hiện tốt quy chế chuyên môn, đảm bảo các quy trình kỹ thuật trong khám chữa bệnh đồng thời tăng cường công tác khám chữa bệnh và quản lý quỹ BHYT.

Triển khai thu thập thông tin thực hiện Chiến lược Quốc gia dinh dưỡng – Công tác dinh dưỡng tiết chế trong bệnh viện tuyến tỉnh theo Công văn ố 472/VDD-CĐT ngày 22 tháng 8 năm 2019 của Viện Dinh dưỡng.

Các đơn vị đảm bảo nhân lực trực cấp cứu, thuốc chữa bệnh, trang thiết bị, phương tiện khám, chữa bệnh phục vụ nhân dân; tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trong mùa mưa lũ.

         

 4. Chính sách lao động - xã hội

Trong tháng, toàn thành phố giải quyết việc làm cho 5.117 lao động, lũy kế từ đầu năm đã giải quyết việc làm cho 71.185 lao động, đạt 123% kế hoạch năm 2019, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2018.

          Đến nay, trên địa bàn thành phố có 90 cơ sở GDNN. Các cơ sở GDNN tuyển mới và đào tạo nghề cho 4.381 người (Cao đẳng:134; Trung cấp:157; Sơ cấp: 1.843; Đào tạo thường xuyên: 2.247), lũy kế tuyển mới và đào tạo nghề cho 43.123 người đạt 89,83% so với kế hoạch năm 2019, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2018.

          Đã khai giảng 119 lớp đào tạo nghề cho LĐNT năm 2019 đạt 100% kế hoạch năm (4.130 học viên). Cấp giấy phép lao động cho 24 người lao động nước ngoài; Miễn cấp giấy phép lao động cho 08 người lao động nước ngoài. Tiếp nhận và thẩm định cấp Giấy xác nhận khai báo sử dụng máy thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động tại 02 doanh nghiệp với tổng số 51 thiết bị. Tiếp nhận Nội quy lao động: 02 đơn vị; Tiếp nhận Thỏa ước lao động 03 đơn vị.

Trung tâm Dịch vụ việc làm thành phố: Tư vấn nghề nghiệp, việc làm, quan hệ lao động cho 12.743 lượt người, lũy kế từ đầu năm 2019 là 92.190 lượt người, đạt 68,29% kế hoạch năm. Kết nối việc làm trong nước cho 1.896 lượt người, lũy kế từ đầu năm 2019 là 9.265 lượt người, đạt 84,23% kế hoạch năm. Đào tạo nghề và kỹ năng lao động cho 735 lượt người, lũy kế từ đầu năm 2019 là 5.740 lượt người, đạt 89,68% kế hoạch năm. Tiếp nhận 92 lượt doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động thông báo biến động lao động hàng tháng theo quy định, lũy kế từ đầu năm 2019 là 949 lượt, đạt 94,90% so với kế hoạch năm. Có 1.064 hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 4,40% so với tháng trước (1.113 hồ sơ). Tổ chức Ngày hội việc làm, tư vấn và tuyển dụng học sinh, sinh viên, giao dịch việc làm trực tuyến… có 1.096 người và các hoạt động khác.

Thực hiện chính sách người có công với cách mạng: Toàn thành phố hiện có 6.485 người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi thường xuyên, tổng kinh phí hơn 10 tỷ đồng (48 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng và được các đơn vị nhận phụng dưỡng). Tiếp nhận, xét duyệt và giải quyết 107 hồ sơ chế độ chính sách.

Đến nay đã bàn giao và nghiệm thu 25/30 căn nhà tình nghĩa từ nguồn hỗ trợ Ngân hàng SHB; Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Cần Thơ hỗ trợ và bàn giao 24/26 căn nhà tình nghĩa.

Phối hợp các đơn vị có liên quan trong Ban Chỉ đạo 515 thành phố Cần Thơ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ trên địa bàn quận, huyện. Phối hợp Cựu Chiến binh và Bộ Chỉ huy quân sự và các ngành có liên quan tiến hành tái giám sát hoạt động xác lập hồ sơ chính sách. Phối hợp VNPT xây dựng Kế hoạch mã số hóa hồ sơ Người có công với cách mạng. Trả lời đơn cho bà Châu Thị Quế, ông Nguyễn Văn Bắc. Tổ chức đưa đoàn Người có công với cách mạng đi điều dưỡng tập trung tại thành phố Phan Thiết cho 140 người.

Công tác bảo trợ xã hội - Trẻ em và bình đẳng giới

Trợ cấp thường xuyên cho 38.583 đối tượng bảo trợ xã hội ngoài cộng đồng, tổng kinh phí 12,817 tỷ đồng. Mua bảo hiểm y tế cho 33.867 đối tượng, tổng kinh phí 2,212 tỷ đồng. Chi trả mai táng phí cho 214 đối tượng bảo trợ xã hội, tổng kinh phí 1,155 tỷ đồng.

Tổ chức tập huấn công tác rà soát hộ nghèo, cận nghèo năm 2019 có 98 đại biểu tham dự. Phối hợp các sở, ngành tham mưu UBND thành phố tiếp Đoàn giám sát của Quốc hội về thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Phối hợp Đoàn công tác của Ngân hàng thế giới tổ chức Hội thảo “Hệ thống an sinh xã hội ứng phó với biến đổi khí hậu; Kinh nghiệm quốc tế và mô hình thí điểm triển khai tại Cần Thơ”. Phối hợp Thành Đoàn Cần Thơ tổ chức Tết Trung thu cho 300 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại huyện Cờ Đỏ và tổ chức cho 100 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đang sinh hoạt tại 09 Câu lạc bộ Tuổi Hồng tại các quận, huyện. Tham mưu UBND thành phố ban hành Kế hoạch tổ chức Lễ phát động “Tháng hành động vì Bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới năm 2019”.

Trung tâm Bảo trợ xã hội đang quản lý 587 đối tượng. Đảm bảo cung cấp lương thực, thực phẩm và tổ chức nấu ăn hàng ngày cho đối tượng đủ chất dinh dưỡng, hợp vệ sinh. Duy trì vệ sinh cá nhân hằng ngày cho đối tượng đang quản lý tại Trung tâm. Tổ chức phục hồi chức năng cho đối tượng bằng nhiều hình thức như: lao động nhẹ, vệ sinh quanh cơ quan, chăm sóc cây xanh tạo cảnh quang xanh, sạch, đẹp có 610 lượt tham gia. Tăng khẩu phần ăn cho 43 đối tượng lão, nhi, đối tượng có sức khỏe yếu. Hướng dẫn đối tượng tập vật lý trị liệu nhằm phục hồi chức năng và trị rối nhiễu tâm trí có 667 lượt tham gia. Phối hợp Trung tâm Y tế dự phòng quận Ô Môn tầm soát lao và HIV cho đối tượng.

Trung tâm Công tác xã hội nuôi dưỡng trực tiếp 84 đối tượng (tăng 05, giảm 01). Tiếp nhận 19 cuộc gọi đến Tổng đài tư vấn miễn phí 18008065 liên quan đến các vấn đề về tìm nguồn lao động, kết nối chuyển gửi 01 trường hợp trẻ mồ côi và nhiễm HIV vào Trung tâm Công tác xã hội Vĩnh Long. Phối hợp Ban Chủ nhiệm tổ chức sinh hoạt cho 07/09 Câu lạc bộ Tuổi Hồng tại 09 quận, huyện có 225 hội viên tham gia. Phối hợp Thành Đoàn thành phố, Câu lạc bộ Kỹ năng Hồng và Hội Kế hoạch hóa gia đình thành phố Cần Thơ tổ chức lồng ghép chuyên đề “Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên” vào buổi sinh hoạt kỹ năng sống hàng tháng cho các đối tượng tại Trung tâm có 20 trẻ tham dự. Phối hợp tổ chức hoạt động “Vầng trăng cổ tích” Trung thu năm 2019 cho 110 em thiếu nhi tại Trung tâm và các cơ sở Bảo trợ xã hội. Đảm bảo chế độ ăn cho đối tượng. Thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm. Đảm bảo thực hiện tốt công tác phòng dịch bệnh, thực hiện tẩy trùng, diệt khuẩn tại các phòng ở của đối tượng 2 lần/tuần, bằng Cloramin B. Tiếp tục phối hợp Bác sỹ Bệnh viện tâm thần trong công tác khám và điều trị cho 21 đối tượng tâm thần tại Trung tâm.

5. Tai nạn giao thông

Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông thành phố Cần Thơ tình hình tai nạn giao thông (từ ngày 16/9/2019 đến 15/10/2019) trên địa bàn thành phố đã xảy ra 09 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 09 người, bị thương 02 người. So với cùng kỳ năm 2018, số vụ giảm 04 vụ, số người chết giảm 05 người, số người bị thương tăng 01 người. 10 tháng năm 2019, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 83 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 87 người, bị thương 26 người. So với cùng kỳ năm 2018, số vụ giảm 05 vụ, số người chết giảm 04 người, số người bị thương giảm 04 người.

 

6. Công tác phòng chống cháy, nổ

Trong tháng 10 năm 2019 đã xảy ra 02 vụ cháy, nổ, giảm 01 vụ so với tháng trước, thiệt hại 45 triệu đồng. 10 tháng năm 2019, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 39 vụ cháy, nổ, thiệt hại tài sản 988 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2018, tăng 20 vụ, số người chết giảm 01 người, số người bị thương giảm 01 người.

 

Nguồn: Cục thống kê TP. Cần Thơ

 

TIN TỨC MỚI NHẤT

Vui lòng để lại email, Viện sẽ gởi các bài viết mới nhất đến bạn ngay khi bài viết được đăng tải.

Video