Tham luận: Liên kết để phát triển các tiểu vùng ở đồng bằng sông Cửu Long

27/03/2020

Tác giả: ThS. Nguyễn Công Toàn, Nghiên cứu viên

Đơn vị công tác: Viện Kinh tế - Xã hội thành phố Cần Thơ

Đặt vấn đề:

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – là vùng đất nằm ở phần hạ lưu sông Mê Kông, với diện tích tự nhiên hơn 4 triệu ha chiếm 12,3% và dân số 17,6 triệu dân chiếm 19,06% so với cả nước (NGTK 2016), bao gồm 12 tỉnh và thành phố Cần Thơ. Là vùng có nhiều tiềm năng nhưng phát triển chưa bền vững (Nguyễn Sơn, 2011). Theo Nguyễn Văn Sánh (2018) cho rằng, ĐBSCL là vùng có vai trò quan trọng về đóng góp an ninh lương thực và nền kinh tế nông nghiệp cho cả nước. Bởi lẽ, vùng đã đóng góp 3 trong 6 mặt hàng nông nghiệp cả nước, hàng năm đạt kim ngạch xuất khẩu từ 3-5 tỷ USD/năm như (gạo, cá tra và tôm) và đóng góp khoảng 27% vào GDP cả nước, trong đó khu vực 1 chiếm khoảng 40%.

Sau hơn 20 năm, với việc hình thành các vùng kinh tế trọng điểm trong cả nước, trong đó có vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL nhằm mục đích tạo lập cơ chế hợp tác hữu hiệu, tạo cơ hội phát huy lợi thế, cũng như hạn chế những bất lợi của từng địa phương vì mục tiêu phát triển bền vững toàn vùng (Nguyễn Hiệp, 2017). Để triển khai mục tiêu này, trong những năm gần đây, Đảng – Nhà nước đã tập trung ưu tiên nhiều nguồn lực để hỗ trợ phát triển nhanh vùng ĐBSCL. Thế nhưng các kết quả nghiên cứu cho thấy, sự phát triển của vùng này đang trong xu thế kém bền vững. Mặc dù, sản lượng nông nghiệp xuất khẩu có tăng nhanh nhưng thu nhập của đại bộ phận nông dân trong vùng không tăng lên tương ứng, thậm chí còn tụt giảm so với mức sống của vùng. Một bộ phận không nhỏ nông dân đứng bên ngoài sự phát triển, từ đó đã tạo nên những tiềm ẩn về bất ổn xã hội và chứa đựng nhiều thách thức đến phát triển kinh tế (Nguyễn Sơn, 2011). Thực tế cho thấy, các hoạt động liên kết vùng ở các địa phương chỉ dừng lại ở mức độ trao đổi thông tin, hay cùng tập trung để thực hiện các công việc riêng mà chưa có biểu hiện của sự phân công cụ thể hay cùng thực hiện một công việc có lợi hoặc không thực hiện một công việc có hại cho các bên. Điều này, dẫn đến mức độ liên kết giữa các địa phương trong vùng ĐBSCL là chưa cao và chưa đạt kết quả như kỳ vọng (Nguyễn Hiệp, 2017).

Có thể thấy rằng, việc nhận ra vai trò quan trọng, cũng như các thách thức trong phát triển các tiểu vùng là rất cần thiết và cấp bách. Trên cơ sở đó, giúp các bộ/ban ngành địa phương, trung ương đưa ra các cơ chế, tổ chức và chính sách nhằm phát triển bền vững vùng trong bối cảnh đặt ra các vấn đề liên quan đến tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển các ngành hàng nông nghiệp chủ lực và thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH). Do vậy, trong phạm vi bài viết này, để tìm ra được các cơ chế, chính sách phát triển của vùng.

Kết quả thảo luận:

Tham luận đã đưa ra một số kết quả thảo luận liên quan đến phát triển các liên kết nông nghiệp tại vùng ĐBSCL: (1) khâu tổ chức quản trị vùng và cơ chế phối hợp còn nhiều hạn chế bất cập; (2) sự cạnh tranh giữa các tỉnh có thể bị phá vỡ qui hoạch vùng. Tác giả cũng gợi ý cơ hội và thách thức, hạn chế và nguyên nhân tồn tại trong liên kết nông nghiệp vùng ĐBSCL với các ngành chủ lực: lúa gạo, thủy sản, trái cây. Thách thức từ chính sách Nhà nước, mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp trong mối liên kết 4 nhà. Đồng thời, gợi ý giải pháp phát triển cơ chế chính sách liên kết các tiểu vùng và toàn vùng ĐBSCL theo các định hướng chính sách: (1) chính sách phát triển vùng theo tiếp cận Nghị quyết 120/CP ngày 17/11/2017; (2) định hướng phát triển liên kết vùng theo Đề án tái cơ cấu nông nghiệp (QĐ 1819/TTg ngày 16/11/2017); (3) định hướng phát triển liên kết vùng theo hướng nông nghiệp thông minh.

Kiến nghị: Trong phạm vi bài viết này, tác giả đã nêu những kiến nghị nhằm góp phần phát triển bền vững các tiểu vùng, toàn vùng ĐBSCL theo từng điều kiện sinh thái và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi tiểu vùng gồm:

(i) Do mỗi tiểu vùng có điều kiện sinh thái nông nghiệp khác nhau, nên rất cần nghiên cứu và phát triển các mô hình liên kết nông nghiệp dựa vào các yếu tố tác động khác nhau và đồng thời lồng ghép việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất theo hướng tiếp cận giải pháp thông minh để tạo ra các sản phẩm nông nghiệp phù hợp với thị trường cho địa phương mình;

(ii) Chính quyền mỗi địa phương trong tiểu vùng quan tâm đến việc lồng ghép các cơ chế, chính sách của Trung ương về phát triển bền vững và đối phó với BĐKH vùng ĐBSCL để tiến tới thực thi các chính sách này phù hợp với điều kiện về nguồn lực của mỗi địa phương trong phát triển các mô hình liên kết nông nghiệp.

(iii) Trên cơ sở các giải pháp phát triển khoa học thông minh, tranh thủ nguồn lực và điều kiện của địa phương và liên kết bên ngoài để củng cố và nâng cao năng lực quản lý địa phương, sắp xếp và tổ chức sản xuất lại các hình thức sản xuất, trong đó đặc biệt quan tâm đến kinh tế hợp tác và hợp tác xã nông nghiệp tiếp cận theo sản xuất hướng thị trường, tập trung quy mô và sản phẩm đạt tiêu chuẩn 4 đúng.

(iv) Rất cần thiết thành lập mạng lưới nghiên cứu và phát triển các mô hình liên kết nông nghiệp theo từng tiểu vùng sinh thái theo cách tiếp cận nông nghiệp thông minh và lồng ghép các cơ chế, chính sách về phát triển bền vững vùng ĐBSCL.

đường Link tải file

 

 

TIN TỨC MỚI NHẤT

Vui lòng để lại email, Viện sẽ gởi các bài viết mới nhất đến bạn ngay khi bài viết được đăng tải.

Video